Chuẩn Quốc Gia

7 tiêu chuẩn đó là: Cơ sở vật chất thiết bị, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, tài chính, hoạt động khoa học, kiểm định chất lượng và xếp hạng, sự hài lòng của sinh viên, của người sử dụng lao động.

Cơ sở GDĐH phải bảo đảm thư viện và trung tâm thông tin học liệu có đủ giáo trình, sách tham khảo cần thiết cho các chương trình đào tạo.

Phải đảm bảo ít nhất 25m2/sinh viên


Bộ GD&ĐT vừa ban hành Thông tư quy định các tiêu chuẩn cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) đạt chuẩn quốc gia gồm 7 tiêu chuẩn.

Trong 7 tiêu chuẩn nói trên, thì điều kiện đầu tiên để được phép xây dựng một cơ sở GDĐH đó là phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn về đất đai, cơ sở vật chất và thiết bị.

Cụ thể, diện tích đất cơ sở GDĐH được giao đảm bảo ít nhất 25m2/sinh viên, diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo đạt ít nhất 3m²/sinh viên.

Song song với đó, cần có đủ các phương tiện, trang thiết bị cần thiết đáp ứng yêu cầu về đào tạo và nghiên cứu khoa học; có cơ sở thực hành và trang thiết bị chuyên biệt theo yêu cầu đảm bảo chất lượng đối với các ngành, chuyên ngành đào tạo đặc thù.

Thư viện và trung tâm thông tin học liệu có đủ giáo trình, sách tham khảo cần thiết cho các chương trình đào tạo; có bản quyền truy cập ít nhất 1 cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế và có ít nhất 1 tạp chí khoa học quốc tế đối với mỗi ngành đào tạo.

Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin kết nối tất cả các đơn vị liên quan đảm bảo tính sẵn sàng truy cập thông tin; trang thông tin điện tử có đầy đủ các thông tin cần phải công khai theo quy định của pháp luật và các thông tin cần thiết khác về cơ cấu tổ chức và các mặt hoạt động của cơ sở GDĐH cho sinh viên và những người quan tâm tra cứu.

Tiêu chuẩn thứ hai, đó là trường phải đảm đội ngũ giảng viên cơ hữu, nghiên cứu viên cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng và cán bộ quản lý đáp ứng các tiêu chuẩn của từng vị trí công tác theo quy định của các văn bản pháp luật có liên quan.

Tỉ lệ sinh viên/giảng viên cơ hữu xác định theo ngành đào tạo đảm bảo không quá 10 sinh viên/giảng viên đối với nhóm ngành nghệ thuật, thể dục thể thao; 15 sinh viên/giảng viên đối với nhóm ngành y-dược và 20 sinh viên/giảng viên đối với các nhóm ngành khác.

Bộ GD&ĐT cũng quy định, giảng viên cơ hữu và nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ chiếm ít nhất 40% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu đối với cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu, 25% đối với cơ sở định hướng ứng dụng và 10% đối với cơ sở định hướng thực hành.

Riêng đối với ngành, chuyên ngành đào tạo theo định hướng nghiên cứu của các cơ sở GDĐH theo định hướng nghiên cứu tỷ lệ này không thấp hơn 50%.

Đối với cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu, tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên có chức danh giáo sư và phó giáo sư trong tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ chiếm ít nhất 30%.

Tiêu chuẩn thứ ba là chuẩn về chương trình đào tạo và hoạt động đào tạo. Cơ sở GDĐH phải có quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo phù hợp với quy định phân tầng các cơ sở GDĐH và đáp ứng yêu cầu đào tạo, phát triển nhân lực của địa phương và cả nước ở từng giai đoạn cụ thể.

Chương trình đào tạo được cập nhập thường xuyên; công khai nội dung các chương trình đào tạo và xuất xứ chương trình tham khảo trên trang thông tin điện tử của cơ sở đào tạo.

Trường phải công khai chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo; có công cụ, phương pháp đánh giá đảm bảo lượng hoá được các tiêu chí của chuẩn đầu ra đã cam kết.

Tổ chức và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ đối với toàn bộ các chương trình đào tạo theo các hình thức giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên…

Số lượng chương trình đào tạo chất lượng cao, các chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở GDĐH nước ngoài và số chương trình có thỏa thuận công nhận tín chỉ, đồng cấp bằng với cơ sở GDĐH nước ngoài chiếm ít nhất 10% tổng số chương trình đào tạo.

Tiêu chuẩn thứ tư yêu cầu cơ cấu hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ của cơ sở GDĐH phải đáp ứng quy định về phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở GDĐH.

Mỗi ngành đào tạo có ít nhất một nhóm giảng dạy-nghiên cứu đảm bảo kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Có ít nhất 90% giảng viên cơ hữu thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và có kết quả theo quy định hiện hành đối với các chức danh giảng viên tương ứng.

Có ít nhất 40% học viên cao học và nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ. Dành ít nhất 4% kinh phí từ nguồn thu học phí để hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên…

Có ít nhất 5 chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường đại học của các nước phát triển và 3 chương trình hợp tác đào tạo, trao đổi sinh viên với các trường đại học nước ngoài.

Tiêu chuẩn thứ năm yêu cầu các cơ sở GDĐH đảm bảo ít nhất 80% chi thường xuyên bằng nguồn thu sự nghiệp và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Đảm bảo ít nhất 50% chi đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, bồi dưỡng nâng cao năng lực giảng viên, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác bằng nguồn thu sự nghiệp và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, phải thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với người học theo quy định hiện hành. Đồng thời thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tài chính, kế toán và kiểm toán.

Một tiêu chuẩn mới được bổ sung tại thông tư lần này đó là yêu cầu về kiểm định chất lượng giáo dục. Thông tư yêu cầu kết quả học tập sinh viên các cơ sở GDĐH phải qua kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học theo quy định của Bộ và giấy chứng nhận đạt chất lượng còn thời hạn tính đến thời điểm xét công nhận cơ sở GDĐH đạt chuẩn quốc gia.

Trường đã có ít nhất 30% tổng số các chương trình đào tạo được kiểm định bởi một tổ chức kiểm định của Việt Nam hoặc một tổ chức kiểm định quốc tế được Bộ GD&ĐT công nhận.

Thứ sáu là các trường phải được xếp hạng 1 theo quy định của khung xếp hạng cơ sở GDĐH hiện hành tại thời điểm đề nghị công nhận cơ sở GDĐH đạt chuẩn quốc gia và duy trì trong thời gian chứng nhận đạt chuẩn quốc gia còn hiệu lực.

Tiêu chuẩn cuối cùng là sự hài lòng của sinh viên và của người sử dụng lao động. Tiêu chuẩn này được đánh giá trong khoảng thời gian 12 tháng tính đến thời điểm cơ sở GDĐH nộp hồ sơ đăng ký công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Cụ thể như sau, phải có 70% số sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp với chuyên môn được đào tạo sau một năm kể từ khi tốt nghiệp. 80% số sinh viên năm cuối hài lòng về chương trình đào tạo và môi trường học tập, nghiên cứu khoa học.

80% số cựu sinh viên được lấy ý kiến của 3 khoá tốt nghiệp gần nhất hài lòng về tính thực tiễn của chương trình đào tạo, khả năng thích nghi của sinh viên tốt nghiệp với môi trường công tác với số mẫu lấy ý kiến ít nhất là 10% số lượng sinh viên tốt nghiệp và không ít hơn 50 phiếu cho mỗi khoá đào tạo.

70% người sử dụng lao động được lấy ý kiến có tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp trong 3 năm gần nhất hài lòng về chất lượng sinh viên tốt nghiệp với số mẫu lấy ý kiến ít nhất là 10 cho mỗi lĩnh vực đào tạo.

Theo chinhphu.vn